Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất(EPR)

EPR là tên viết tắt của cụm từ tiếng Anh Extended Producer Responsibility, có nghĩa là Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất. Theo định nghĩa được Chương trình môi trường Liên hiệp quốc (UNEP) đưa ra trong Công ước quốc tế về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới các chất thải nguy hại và việc tiêu hủy chúng (BASEL), EPR là cách tiếp cận chính sách môi trường theo đó trách nhiệm của nhà sản xuất một loại sản phẩm được mở rộng tới giai đoạn thải bỏ trong vòng đời của sản phẩm đó.
Khái niệm EPR lần đầu tiên được đưa ra trong Luật Bảo vệ Môi trường từ năm 2005, với yêu cầu thu hồi một số sản phẩm sau tiêu dùng. Sau đó EPR được thực hiện theo Quyết định 16/2015/QĐ-TTg về thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ được áp dụng với 5 nhóm ngành hàng gồm: Ắc quy và pin; thiết bị điện, điện tử; dầu nhớt các loại; săm, lốp và phương tiện giao thông. Trong đó, thời hạn thu hồi và xử lý được áp dụng cho phương tiện giao thông từ 1/1/2018 còn các nhóm còn lại từ 1/7/2016. Tuy nhiên, kết quả thực hiện còn khiêm tốn.
Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có nhiều cải cách, thay đổi lớn trong tiếp cận chính sách môi trường về thể chế với nguyên tắc: Người gây ô nhiễm phải trả tiền và tiếp cận quản lý chất thải rắn dựa trên nguyên tắc thị trường. Một trong những thay đổi đó là quy định về EPR. Lần này EPR được kỳ vọng sẽ giúp thúc đẩy cải cách hệ thống quản lý chất thải rắn hiện nay, từng bước hình thành ngành công nghiệp tái chế và là nền tảng quan trọng cho xây dựng nền kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam.
Điều 54 và 55 trong Luật Bảo vệ môi trường 2020 đưa ra hai công cụ chính sách hướng tới nhà sản xuất, nhập khẩu, bao gồm trách nhiệm đóng góp tài chính và trách nhiệm thu gom, tái chế sản phẩm bị thải bỏ sau quá trình sử dụng. Đây cũng là hai công cụ chính sách nền tảng để thực hiện các tiếp cận EPR trong quản lý chất thải rắn, được kỳ vọng sẽ là động lực mạnh mẽ cho việc thiết lập mô hình kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam. Điều 54 quy định trách nhiệm tái chế của nhà sản xuất. Điều 55 quy định trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất. Điều 54 nêu rõ, tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu sản phẩm, bao bì có giá trị tái chế phải thực hiện tái chế theo tỷ lệ và quy cách tái chế bắt buộc, trừ các sản phẩm, bao bì xuất khẩu hoặc tạm nhập, tái xuất hoặc sản xuất, nhập khẩu cho mục đích nghiên cứu, học tập, thử nghiệm. Tổ chức, cá nhân được lựa chọn thực hiện tái chế sản phẩm, bao bì theo một trong các hình thức sau đây: Tổ chức tái chế sản phẩm, bao bì; đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để hỗ trợ tái chế sản phẩm, bao bì; tổ chức, cá nhân phải đăng ký kế hoạch tái chế và báo cáo kết quả tái chế hàng năm đến Bộ Tài nguyên và Môi trường, trừ trường hợp đã đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam. Việc đóng góp, sử dụng đóng góp tài chính hỗ trợ tái chế sản phẩm, bao bì phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây: Mức đóng góp tài chính và mức kinh phí hỗ trợ tái chế được xác định theo khối lượng hoặc đơn vị sản phẩm, bao bì; đóng góp tài chính được sử dụng để hỗ trợ cho hoạt động tái chế sản phẩm; việc tiếp nhận, sử dụng đóng góp tài chính phải công khai, minh bạch, đúng mục đích theo quy định của pháp luật.
Điều 55 quy định trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu. Theo đó tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu sản phẩm, bao bì chứa chất độc hại, khó có khả năng tái chế hoặc gây khó khăn cho thu gom, xử lý phải đóng góp tài chính, trừ sản phẩm xuất khẩu hoặc tạm nhập, tái xuất hoặc sản xuất, nhập khẩu cho mục đích nghiên cứu, học tập, thử nghiệm. Tổ chức, cá nhân đóng góp tài chính, vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam với mức đóng góp tài chính được xác định theo khối lượng hoặc đơn vị sản phẩm, bao bì. Các hoạt động được hỗ trợ từ Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam phục vụ hoạt động xử lý chất thải bao gồm: Thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ hộ gia đình, cá nhân; nghiên cứu, phát triển công nghệ, kỹ thuật, sáng kiến xử lý chất thải rắn sinh hoạt; thu gom, vận chuyển, xử lý bao bì chứa thuốc bảo vệ thực vật.
Nghị định số 08/2022/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 10/1/2022 (Nghị định 08) quy định chi tiết trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập cảnh, với trách nhiệm tái chế nhà sản xuất phải tái chế các sản phẩm hoặc bao bì đóng gói của mình đưa ra thị trường theo một tỷ lệ và quy cách bắt buộc từ Điều 77 đến điều 79 tại Chương VI: Trách nhiệm tái chế, xử lý sản phẩm, bao bì của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu. Theo đó, nhà sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm, bao bì để đưa ra thị trường Việt Nam phải thực hiện trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì đó theo tỷ lệ, quy cách tái chế bắt buộc. Nhà sản xuất, nhập khẩu thực hiện trách nhiệm tái chế các sản phẩm, bao bì do mình sản xuất, nhập khẩu theo lộ trình sau đây: Bao bì và các sản phẩm ắc quy, pin; dầu nhớt; săm lốp: từ ngày 1/1/2024; Sản phẩm điện, điện tử: từ ngày 1/1/2025; Phương tiện giao thông: từ ngày 1/1/2027.
Điều 78 của Luật Bảo vệ môi trường nêu rõ định nghĩa tỷ lệ tái chế, quy cách tái chế bắt buộc. Tỷ lệ tái chế bắt buộc là tỷ lệ khối lượng sản phẩm, bao bì tối thiểu phải được tái chế theo quy cách tái chế bắt buộc trên tổng khối lượng sản phẩm, bao bì sản xuất được đưa ra thị trường và nhập khẩu trong năm thực hiện trách nhiệm. Tỷ lệ tái chế bắt buộc của từng loại sản phẩm, bao bì được xác định trên cơ sở vòng đời, tỷ lệ thải bỏ, tỷ lệ thu gom của sản phẩm, bao bì; mục tiêu tái chế quốc gia, yêu cầu bảo vệ môi trường và điều kiện kinh tế – xã hội từng thời kỳ.
Nhà sản xuất, nhập khẩu có thể lựa chọn hình thức tổ chức tái chế như: Tự thực hiện tái chế; thuê đơn vị tái chế để thực hiện tái chế; ủy quyền cho tổ chức trung gian để tổ chức thực hiện tái; kết hợp cách thức nói trên. Đồng thời các nhà sản xuất, nhập khẩu không tự thực hiện tái chế khi không bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật.



